Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là gì?

Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là gì?

Trong bài viết này chúng tôi sẽ giúp các bạn tìm hiểu thông tin và kiến thức về Phép biện chứng cổ đại là hot nhất hiện nay được bình chọn bởi người dùng

Bạn đang xem: Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là gì? tại Trường THPT Kiến Thụy

Cùng trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong tìm hiểu khái niệm phép biện chứng là gì, các phương thức phát triển của phép biện chứng trong lịch sử, những đặc điểm cơ bản của phép biện chứng cổ đại, v.v.

Khái niệm phép biện chứng và phép biện chứng

Trong chủ nghĩa Mác – Lênin, khái niệm phép biện chứng được dùng để chỉ những mối liên hệ, tác động qua lại, chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên và xã hội. và suy nghĩ.

Phép biện chứng bao gồm phép biện chứng khách quan và phép biện chứng chủ quan. Phép biện chứng khách quan là phép biện chứng của thế giới vật chất, còn phép biện chứng chủ quan là sự phản ánh của phép biện chứng khách quan vào đời sống ý thức của con người.

Theo Ph.Ăngghen: “Cái gọi là biện chứng khách quan là thống trị trong toàn bộ giới tự nhiên, còn cái gọi là biện chứng chủ quan, tức tư duy biện chứng, chỉ là sự phản ánh thống trị trong toàn bộ giới tự nhiên…”.

Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát tính biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn. Cũng theo nghĩa đó, phép biện chứng thuộc phép biện chứng chủ quan, đồng thời nó cũng đối lập với phép siêu hình – phương pháp tư duy về các sự vật, hiện tượng toàn cầu trong trạng thái biệt lập, bất biến.

Phép biện chứng cổ đại là gì?

Xem thêm: Giáo dục công dân lớp 6 Kết nối tri thức | Giải GDCD 6 – VietJack.com

Phép biện chứng đã phát triển qua ba phương pháp, ba cấp độ cơ bản: phép biện chứng sơ khai thời cổ đại (gọi tắt là phép biện chứng cổ đại), phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức và phép biện chứng duy vật. của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Phép biện chứng đơn giản của thời cổ đại là phương thức biện chứng đầu tiên. Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học cổ đại của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp. Tiêu biểu cho tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “thuyết biến hóa” (thuyết về những nguyên lý và quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ) và “thuyết ngũ hành” (thuyết về những nguyên lý biến đổi trong vũ trụ). tương tác và thay đổi phẩm chất bản thể trong vũ trụ) của gia tộc Onmyoji. Trong triết học Ấn Độ, biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết học Phật giáo, với các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”, “nhân và duyên”. Đặc biệt, triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện sâu sắc ý thức về phép biện chứng tự phát. Engels viết: “Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự nhiên, tự phát, và Aristotle, nhà bách khoa toàn thư nhất trong số họ, cũng đã nghiên cứu các phương pháp cơ bản. Quan điểm toàn cầu đầu tiên, tuy ngây thơ nhưng thực chất là đúng, là quan điểm toàn cầu của các triết gia Hy Lạp cổ đại và lần đầu tiên được Heraclitus trình bày một cách rõ ràng. Rõ ràng: vạn vật hiện hữu và đồng thời không hiện hữu, bởi vì vạn vật đều đang trôi qua, vạn vật luôn biến đổi, vạn vật luôn sinh diệt.

Xem thêm  Cách giải bài tập Axit tác dụng với kim loại hay, chi tiết - Hóa học lớp 9

Tuy nhiên, những tư tưởng biện chứng đó về cơ bản vẫn còn ngây thơ và khờ khạo. Ph.Ăng-ghen nhận xét: “Trong triết học này, tư duy biện chứng xuất hiện với một sự giản dị tự nhiên, chưa bị những trở ngại đáng yêu khuấy động… Đó là do người Hy Lạp chưa đạt đến trình độ mổ xẻ, tìm tòi, mổ xẻ. hiểu giới tự nhiên nên họ vẫn quan niệm giới tự nhiên là một chỉnh thể và đứng trên phương diện chỉnh thể để xem xét. Mối liên hệ chung giữa các hiện tượng tự nhiên chưa được chứng minh một cách chi tiết: đối với họ, mối liên hệ là kết quả của sự quan sát trực tiếp. Phép biện chứng giản đơn cổ đại đã nhận thức đúng đắn về tính biện chứng của thế giới, nhưng bằng trực giác thiên tài, bằng trực giác ngây thơ và non nớt, nó thiếu sự chứng minh bằng những thành tựu phát triển của khoa học tự nhiên.

Từ nửa sau thế kỷ XV, khoa học tự nhiên bắt đầu phát triển mạnh, đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu từng yếu tố riêng lẻ của giới tự nhiên, dần dần dẫn đến sự ra đời của phương pháp siêu hình. Đến thế kỷ XVIII, phương pháp siêu hình trở thành phương pháp chủ đạo trong tư duy triết học và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, khi khoa học tự nhiên chuyển từ nghiên cứu những đối tượng cụ thể sang nghiên cứu quá trình thống nhất của các đối tượng đó trong mối liên hệ thì phương pháp tư duy siêu hình không còn phù hợp mà phải chuyển sang một phương pháp tư duy mới cao hơn là biện chứng. Suy nghĩ.

những nét cơ bản của phép biện chứng cổ đại

– Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là tính tự phát, hồn nhiên; Đây chỉ là những khái niệm biện chứng mang tính suy diễn, phỏng đoán dựa trên kinh nghiệm trực giác nên chưa trở thành hệ thống lý luận nhận thức mà mới chỉ dừng lại ở việc mô tả tính biện chứng của thế giới.

– Tuy còn hạn chế nhưng phép biện chứng cổ đại coi thế giới là một chỉnh thể thống nhất; giữa các bộ phận của thế giới có mối quan hệ qua lại với nhau, xâm nhập vào nhau, ảnh hưởng và quy định lẫn nhau và đó là cơ sở để phép biện chứng phát triển.

Xem thêm  Top 10 Bài văn phân tích truyện ngắn "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam

các phương thức phát triển khác của phép biện chứng

Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức

Xem thêm: Sinh ngày 6 tháng 11 thuộc cung gì? Đặc điểm Bọ Cạp sinh ngày 6/11

Triết học cổ điển Đức ra đời trong những điều kiện lịch sử hết sức đặc biệt. Nước Đức vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 vẫn còn là một nước rất lạc hậu về kinh tế và chính trị so với nhiều nước ở châu Âu như Anh, Pháp. Đây cũng là một quốc gia phong kiến ​​điển hình, với 360 tiểu vương quốc tự cung tự cấp trong một liên bang Đức chỉ là phương thức, lạc hậu về kinh tế và chính trị. Thủ công nghiệp, công nghiệp và nông nghiệp đã bị đình chỉ.

– Bắt đầu ở Kant và hoàn thiện ở Hégel. Theo Engels: “Phương thức biện chứng thứ hai, phương thức quen thuộc nhất đối với các nhà khoa học Đức, là triết học cổ điển Đức, từ Kant đến Hegel”.

– Các nhà triết học cổ điển Đức đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhất của phép biện chứng duy tâm một cách có hệ thống. Tính duy tâm trong triết học Hegel thể hiện ở chỗ, ông coi phép biện chứng là bước phát triển ban đầu của “ý niệm tuyệt đối”, coi phép biện chứng chủ quan là cơ sở của phép biện chứng khách quan. Theo Hégel, “ý niệm tuyệt đối” là xuất phát điểm của tồn tại, tự “tha hóa” mình vào tự nhiên và trở về với chính mình trong tồn tại có ý thức. “Thức, tưởng, tưởng là cái có trước, còn thế giới hiện thực chỉ là bản sao của ý niệm”. Các nhà triết học duy tâm Đức, mà đỉnh cao là Hégel, đã xây dựng phép biện chứng duy tâm với hệ thống phạm trù, quy luật chung, logic chặt chẽ của ý thức và ý thức. Lênin cho rằng: “Hegel đã suy đoán một cách tài tình phép biện chứng của sự vật trong phép biện chứng của các khái niệm”. Ăng-ghen cũng nhấn mạnh tư tưởng của Mác: “Sự thần bí mà phép biện chứng có được trong tay Hégel hoàn toàn không ngăn cản Hégel là người đầu tiên trình bày một cách toàn diện và có ý thức các hình thức vận động chung của phép biện chứng. Ở Hégel, phép biện chứng lộn ngược. Nó chỉ là cần được tái cấu trúc để bộc lộ hạt nhân hợp lý đằng sau lớp vỏ thần bí của nó.”

– Chủ nghĩa duy tâm trong phép biện chứng cổ điển Đức cũng như trong triết học Hêghen là một hạn chế cần phải khắc phục. Mác và Ăng-ghen đã khắc phục hạn chế đó để sáng tạo ra phép biện chứng duy vật. Đó là giai đoạn phát triển cao nhất của phép biện chứng trong lịch sử triết học, là sự kế thừa về ý thức phê phán của phép biện chứng cổ điển Đức. Bản thân Engels đã nhận xét: “…có thể nói rằng hầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự ý thức khỏi triết học duy tâm Đức và kết hợp nó vào quan niệm duy vật về tự nhiên và về tự nhiên. lịch sử”.

Xem thêm  TOP 18 bài Phân tích hình ảnh phố huyện lúc chiều tàn trong Hai

Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin

– Khẳng định thế giới vật chất tồn tại khách quan, các sự vật, hiện tượng luôn vận động và biến đổi, chuyển hóa lẫn nhau, cái cũ mất đi, cái mới ra đời. Vì các sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn vận động và biến đổi thường xuyên nên tư duy của con người phải luôn đổi mới để theo kịp sự vận động và biến đổi đó, như Ph.Ăng-ghen đã viết trong tác phẩm Chống Đuy-rinh: “Phép biện chứng… là khoa học về các quy luật phổ biến. của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và tư duy”, “là chìa khóa giúp trẻ. tận hưởng và chinh phục thế giới”. Vì vậy, khi xây dựng đường lối đổi mới, Đảng ta đã xác định trước hết phải đổi mới tư duy cho cán bộ, đảng viên cả về phương pháp tư duy; lý luận nhận thức; cơ chế chính sách. Phép biện chứng duy vật là công cụ hữu hiệu giúp Đảng ta khắc phục triệt để ba vấn đề lớn liên quan đến đường lối đổi mới từ năm 1986 đến nay.

Xem thêm: TOP 104 bài văn Tả mẹ lớp 5 hay nhất mới nhất 2023 SIÊU HAY

Qua bài viết, trường THPT Kiến Thụy đã giúp học sinh làm rõ khái niệm phép biện chứng là gì, các phương thức phát triển của phép biện chứng, đặc điểm cơ bản của phép biện chứng cổ đại là gì,… Các em học sinh có thể truy cập website trường THPT Kiến Thụy để tìm hiểu nhiều bài viết bổ ích trong quá trình học tập và thi cử.

Bản quyền bài viết thuộc về THPT Sóc Trăng.Edu.Vn. Mọi sao chép đều là gian lận!

Nguồn chia sẻ: c3kienthuyhp.edu.vn

Bạn thấy bài viết Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là gì? có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là gì? bên dưới để Trường THPT Kiến Thụy có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: c3kienthuyhp.edu.vn của Trường THPT Kiến Thụy

Nhớ để nguồn bài viết này: Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là gì? của website c3kienthuyhp.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Bản quyền nội dung thuộc wonderkidsmontessori.edu.vn

Bài viết liên quan

Tri Thức Cộng Đồng chuyên viết luận văn thạc sĩ tiếng Anh
Học Viện PMS – Đơn vị đào tạo 5S-Kaizen mang tính thực tiễn cao
Cách chỉnh độ rộng của dòng và cột trong word
Cách chỉnh độ rộng của dòng và cột trong word
Từ điển Thành ngữ Tiếng Việt – em ngã, chị nâng là gì?
Từ điển Thành ngữ Tiếng Việt – em ngã, chị nâng là gì?
Vật Lí 8 Bài 20: Nguyên tử, phân tử chuyển động hay đứng yên?
Vật Lí 8 Bài 20: Nguyên tử, phân tử chuyển động hay đứng yên?
Bảng chữ cái Tiếng Thái – Gia sư Tâm Tài Đức
Bảng chữ cái Tiếng Thái – Gia sư Tâm Tài Đức
Bộc trực là gì? 6 biểu hiện của người có tính bộc trực – CareerLink
Bộc trực là gì? 6 biểu hiện của người có tính bộc trực – CareerLink
Danh sách các trường THCS ở Hà Nội nên cho con học
Danh sách các trường THCS ở Hà Nội nên cho con học